Món Nhật Bản


Kích thích vị giác với những món ngon được chế biến từ cá Saba (cá thu) Nhật

Một trong những loài cá được yêu thích ở Nhật Bản và có thể dễ dàng tìm kiếm ở các chợ thủy hải sản ở Nhật Bản chính là cá thu Nhật. Cá thu Nhật có nhiều hàm lượng chất dinh dưỡng cần thiết cho con người. Không chỉ ở Nhật Bản mà ở các quốc gia lân cận cũng rất ưa chuộng loại cá này điển hình như ở Việt Nam chúng ta. Các bà nội trợ đã không còn quá xa lạ với loài cá này. Cá thu Nhật hay Cá sa ba hay sa pa, còn biết đến với một cái tên khác là cá thu Thái Bình Dương, cá thu Nhật Bản, cá thu lam hoặc cá thu bống, đôi khi còn gọi là "cá thu đầu cứng" hay "cá thu mắt bò", là một loài cá thu có họ gần với cá thu Đại Tây Dương (Scomber scombrus) trong họ Cá thu ngừ (Scombridae).
cá saba nhật bản
Cá thu được chế biến thành nhiều món khác nhau nhưng ở Nhật món sushi vẫn là lựa chọn hàng đầu bởi độ tươi của cá có thể đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe của món ăn nổi tiếng này. Ở các quốc gia khác sẽ có nhiều cách chế biến khác nhau nhưng khó có thể làm sushi vì mất khoản một thời gian dài nhập khẩu, vận chuyển chất lượng cá sẽ không còn tươi và ngon như khi mới được đánh bắt lên. Đây là loài cá nói chung kích thước nhỏ hơn cá thu Đại Tây Dương, chiều dài trung bình khoảng 20–35 cm (8-14 inch). Con cá dài nhất được ghi nhận là 64 cm và nặng nhất là 2,9 kg. Cá thu này sống đến 18 năm. Về mặt cơ thể, đáng kể nhất là cá sa ba có bong bóng khá phát triển nối với thực quản, trong khi các loài "cá thu thật sự" trong chi Scomber không có. Về ngoại hình cá thu Đại Tây Dương có thân sau màu trắng bạc phía dưới đường giữa, trong khi khúc thân sau phía dưới của cá sa ba có vằn xen lẫn đốm đen nhỏ. Mắt cá sa ba cũng to hơn cá thu Đại Tây Dương. Một số khác biệt khó nhận diện hơn là vây lưng cá sa ba mọc gần nhau hơn, tổng cộng là 9 hay 10 gai. Cá thu Đại Tây Dương thì thường có 11 gai trở lên. Tiết diện thân cá hình elip.
cá saba nhật bản
Cá sa ba di chuyển theo các hải lưu nước ấm nhưng chịu lạnh tốt hơn cá thu lam. Khi trời sang thu chúng thiên di về vùng nhiệt đới đến mùa xuân tới thì lại trở về vùng khí hậu ôn đới. Khoảng cách di chuyển mỗi ngày có thể trên 10 km. Mùa cá sinh sản từ tháng 2 tới tháng 8; trứng cá có đường kính 1,08-1,15 mm. Cá dài khoảng 25 cm có thể đẻ 10-40 nghìn trứng trong khi cá trên 40 cm có khả năng đẻ 80-140 nghìn trứng. Cho dù lượng trứng rất lớn tỷ lệ cá bột sinh tồn không cao vì trứng và cá con thường bị các loài cá khác ăn.
Cá sa ba di chuyển thành bầy như cá thu Đại Tây Dương, và cách kiếm ăn của chúng cũng tương tự, săn bắt các loài giáp xác ngoài biển khơi. Khi ở vùng ven biển như Woods Hole cá chủ yếu ăn các loài phù du thuộc phân lớp Chân cong (Copepoda). Chúng cũng ăn các loài thuộc bộ Amphipoda, họ San pê (Salpidae), lớp Appendicularia, và cá trích (Clupea spp.) nhỏ. Cá sa ba có thể nhóm thành bầy di chuyển cùng các loài khác như cá ngừ Thái Bình Dương (Sarda chiliensis), cá sòng Thái Bình Dương (Trachurus symmetricus) và cá sacđin Nam Mỹ (Sardinops sagax).
Bên cạnh đó cá Saba Nhật được chế biến thành rất nhiều món ngon và vô cùng bổ dưỡng. Cùng nhau xem qua một số món ăn vô cùng hấp dẫn đó nào!
cá saba nhật bản

cá saba nhật bản

cá saba nhật bản

cá saba nhật bản

cá saba nhật bản

Xem thêm bài viết liên quan